|
QUỐC
HỘI
Số:
25/2004/QH11
|
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc
-----
o0o -----
Hà Nội , Ngày 15 tháng 06 năm 2004
|
LUẬT
Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em
Căn cứ vào Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị
quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ
10;
Luật này quy định về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em,
Chương
I
Những quy định chung
Điều 1. Trẻ em
Trẻ em quy định trong Luật này
là công dân Việt Nam
dưới mưới sáu tuổi.
Điều 2. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Luật này quy định các quyền
cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong
việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
2. Luật này được áp dụng đối với
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân
Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân); tổ chức
nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt
Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ
điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng.
2. Trẻ em lang thang là trẻ em
rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ
em cùng với gia đình đi lang thang.
3. Gia đình thay thế là gia đình
hoặc cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
4. Cơ sở trợ giúp trẻ em là tổ
chức được thành lập để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt.
Điều 4. Không phân biệt đối xử với trẻ em
Trẻ em, không phân biệt gái,
trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con
chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã
hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
1. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công
dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan
đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.
2. Nhà nước khuyến khích và tạo
điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp
phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Điều 6. Thực hiện quyền của trẻ em
1. Các quyền của trẻ em phải
được tôn trọng và thực hiện.
2. Mọi hành vi vi phạm quyền của
trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị
theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Cha mẹ bỏ rơi con, người giám
hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;
2. Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang
thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi;
3. Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ
em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ
em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác
có hại cho sức khoẻ;
4. Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa
chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em;
5. Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử
dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực,